-
-
-
Tổng tiền thanh toán:
-
Tin tức
Ảnh hưởng tinh tế của Trường phái Màu sắc Washington
Câu chuyện về Trường phái Màu sắc Washington là một lời cảnh tỉnh. Thoạt nhìn (có thể nói như vậy), đó chỉ là một câu chuyện đơn giản về sáu họa sĩ: Kenneth Noland, Morris Louis, Gene Davis, Howard Mehring, Thomas Downing và Paul Reed. Mỗi người trong số họ từng sống ở Washington, D.C., và mỗi người từng theo đuổi một loại hình hội họa trừu tượng tương tự, được định nghĩa bởi những mảng màu phẳng, đặc và rực rỡ, thường được vẽ bằng sơn acrylic Magna trên toan chưa lót nền. Quan trọng hơn, mỗi người đều có tác phẩm được trưng bày trong triển lãm "Các họa sĩ màu sắc Washington", khai mạc năm 1965 tại Phòng trưng bày Nghệ thuật Hiện đại Washington (WGMA), một triển lãm tuy ngắn ngủi nhưng có ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, ẩn bên dưới câu chuyện tưởng chừng vô hại ấy là cả một thế giới của những kẻ bắt chước, những “phù thủy” truyền thông và những người kiến tạo huyền thoại văn hóa. Khi được nhìn nhận đúng bản chất, câu chuyện này mở ra cơ hội để ta xem xét một cách phê phán cách các trào lưu nghệ thuật hình thành, cũng như vai trò quyền lực của chủ gallery, giám tuyển và nhà phê bình trong việc định hình những diễn ngôn và câu chuyện chính thống của lịch sử nghệ thuật.
CÂU CHUYỆN PHÍA SAU
Mốc thời gian: năm 1952. Một họa sĩ trừu tượng trẻ tên Helen Frankenthaler đang thử nghiệm trong xưởng vẽ của mình tại New York. Bà sử dụng sơn dầu, và giống như hầu hết các họa sĩ sơn dầu khác, thông thường bà sẽ lót nền (prime) cho toan trước khi vẽ, đồng thời chỉ pha loãng màu ở mức vừa đủ để có thể thao tác. Nhưng vào ngày hôm đó, cô chợt nảy ra một ý tưởng. Bà quyết định pha loãng sơn dầu đến mức rất cao, và thay vì dùng cọ vẽ lên một tấm toan đã lót nền, bà trải một tấm toan chưa lót xuống sàn và đổ trực tiếp lớp màu đã pha loãng lên bề mặt. Sơn thấm sâu vào toan, nhuộm màu từng sợi vải và lan tỏa theo những cách không hề được tính trước. Bà đặt tên cho tác phẩm thử nghiệm đầu tiên này là "Núi và Biển". Vẻ nhẹ nhàng, thanh thoát của nó là kết quả của cách các màu sắc tương tác với bề mặt và với chính nhau, nhờ kỹ thuật mới mà Frankenthaler vừa phát minh ra.
Một trong những nhà phê bình nghệ thuật có ảnh hưởng nhất ở Mỹ năm 1952 là Clement Greenberg. Ông đã đến thăm xưởng vẽ của Helen Frankenthaler ngay sau khi bà vẽ tác phẩm đột phá "Núi và Biển". Greenberg ngay lập tức nhận ra thiên tài trong sự đổi mới của bà. Tuy nhiên, thay vì đơn thuần tôn vinh Frankenthaler như một họa sĩ tiên phong đúng nghĩa, Greenberg đã mời hai họa sĩ nam mà ông kính trọng - Morris Louis và Kenneth Noland - từ Washington, D.C. đến để tận mắt chứng kiến điều Frankenthaler vừa làm được. Sau đó, Greenberg khuyến khích họ tiếp nhận kỹ thuật mới đầy hứng khởi này và áp dụng vào thực hành nghệ thuật của chính mình, điều mà họ thực sự đã làm. Khi Louis và Noland tiếp tục phát triển kỹ thuật ấy qua các thử nghiệm riêng, Greenberg đã trở thành người cổ vũ mạnh mẽ cho họ, tôn vinh họ như những gương mặt đi đầu của một trào lưu nghệ thuật do chính ông đặt tên là Trừu tượng Hậu Hội họa Post-Painterly Abstraction - một khuynh hướng được định nghĩa bởi các bề mặt phẳng, và là một phần của phong trào lớn hơn nữa mà ông cũng tạo ra là “Trường phái Màu sắc”, phong trào đề cao vai trò tối thượng của màu sắc so với các yếu tố thẩm mỹ khác.
![]()
Helen Frankenthaler - Mountains and Sea, 1952.
TRƯỜNG PHÁI MÀU SẮC WASHINGTON
Hãy tua nhanh đến năm 1962. John F. Kennedy là Tổng thống Hoa Kỳ. Nghệ thuật và văn hóa trở thành mối quan tâm hàng đầu trong giới thượng lưu Washington, D.C., và Alice Denney, người phụ nữ quyền quý của nghệ thuật tiên phong Washington, D.C., vừa khai trương một phòng trưng bày mới: Phòng trưng bày Nghệ thuật Hiện đại Washington (WGMA). Giám đốc đầu tiên của gallery, Adelyn Breeskin, trước đây làm việc tại Bảo tàng Nghệ thuật Baltimore, đã phụ trách triển lãm khai mạc với tác phẩm của Franz Kline. Trong đêm khai mạc, sự hiện diện của Helen Frankenthaler, cùng nhiều nghệ sĩ danh tiếng khác đã khẳng định tầm vóc của sự kiện. Triển lãm thành công vang dội. Hai năm sau, khi Adelyn Breeskin rời đi, WGMA trở thành trung tâm của thế giới nghệ thuật Washington, D.C.
Người được thuê để thay thế Breeskin làm giám đốc là nhà phê bình nghệ thuật Gerald Nordland. Trong một năm duy nhất Nordland làm việc tại phòng trưng bày, ông đã tổ chức một triển lãm có ảnh hưởng lớn: Những họa sĩ trường phái màu sắc Washington. Triển lãm này đưa ra lập luận rằng tại Washington, D.C., tách biệt khỏi ảnh hưởng trực tiếp của bối cảnh nghệ thuật New York, một nhóm họa sĩ Trường phái Màu sắc hoàn toàn độc đáo đã nổi lên một cách độc lập và nên được công nhận trên phạm vi quốc tế vì những thành tựu đặc biệt của họ. Triển lãm đạt thành công vang dội, và khái niệm về Trường phái Màu sắc Washington nhanh chóng được đón nhận bởi các nhà sưu tập, giám tuyển, chủ gallery, cũng như nhiều nghệ sĩ khác tại Washington, D.C. - không chỉ giới hạn trong sáu nghệ sĩ ban đầu đón nhận nồng nhiệt.
![]()
Kenneth Noland - Bridge, 1964
NHỮNG KẺ BẮT CHƯỚC, NHỮNG NGƯỜI THAO TÚNG DƯ LUẬN VÀ NHỮNG NHÀ TẠO RA HUYỀN THOẠI
Bê bối rõ ràng nhất nảy sinh về nhóm họa sĩ Trường màu Washington là hai thành viên nổi tiếng nhất của phong trào được gọi là "địa phương hóa", Kenneth Noland và Morris Louis, đều sao chép tác phẩm của Helen Frankenthaler, một họa sĩ người New York. Nếu Clement Greenberg trao cho Frankenthaler sự ghi nhận xứng đáng, thì ngay từ đầu đã rõ ràng rằng hội họa của nhóm Washington Color Painters chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các nghệ sĩ ở nơi khác, chứ không hề phát triển một cách “độc lập” như câu chuyện sau này được kể lại. Nhưng sự ghi nhận đó đã không được thực hiện, dẫn đến tranh cãi rõ ràng thứ hai về nhóm Washington Color Painters: tất cả các họa sĩ trong triển lãm đều là nam giới da trắng, kiểu nghệ sĩ duy nhất mà Greenberg từng ủng hộ. Điều kỳ lạ nhất là, một trong số họ (Morris Louis) đã qua đời ba năm trước triển lãm, và một người (Kenneth Noland) đã chuyển đến Vermont một năm trước đó.
Nhìn chung, thay vì phá vỡ lớp vỏ mỏng manh bảo vệ huyền thoại về Trường phái Màu sắc Washington, các nhà viết lịch sử nghệ thuật đương đại chỉ đơn giản là chấp nhận câu chuyện này, sử dụng lối kể chuyện đơn giản, dễ hiểu của nó như một điểm khởi đầu thuận tiện cho các triển lãm, bài giảng và tiểu luận. Kết quả là, tiểu thể loại nghệ thuật trừu tượng những năm 1960 cho phép một số tác phẩm đạt được giá cao hơn trên danh nghĩa tại các cuộc đấu giá, và sự nghiệp của một số ít nghệ sĩ vốn không có nhiều đóng góp độc đáo vào cuộc thảo luận có được uy tín. Điều này không nhằm công kích hay phủ nhận giá trị của bất kỳ nghệ sĩ hay tác phẩm nào. Nó chỉ nhằm chỉ ra rằng: khi chúng ta để những phong trào và nhãn mác được dựng nên chi phối cách hiểu của mình về một lĩnh vực phức tạp như nghệ thuật, chúng ta đã khuất phục trước ảnh hưởng của những người nắm quyền lực trong quá khứ, những người thường bị thúc đẩy bởi chủng tộc, giới tính và cái tôi của chính họ hơn là bởi thẩm mỹ.
![]()
Morris Louis - Gamma Epsilon, 1960-196
Nguồn: ideelart
Biên dịch: Thu Thảo