-
-
-
Tổng tiền thanh toán:
-
Tin tức
Arshile Gorky: Từ Siêu thực đến Trừu tượng ( Phần 1 )
![]()
( Arshile Gorky, Untitled, 1944-45 )
Arshile Gorky – từ cuộc đời lưu vong đến ngôn ngữ hội họa độc bản
Họa sĩ đầy bí ẩn Arshile Gorky được giới nghiên cứu tôn vinh vừa là đại diện cuối cùng của Chủ nghĩa Siêu thực, vừa là người mở đường cho Chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng. Ở giai đoạn chín muồi, hội họa của ông là sự kết hợp giữa niềm ngưỡng mộ sâu sắc dành cho các bậc tiền bối hiện đại như Paul Cézanne và Pablo Picasso, sự quan tâm mãnh liệt đến thế giới tiềm thức, cùng khả năng truyền tải cảm xúc và tính huyền nhiệm thông qua hình thức trừu tượng.
Trong cuốn catalogue xuất bản nhân triển lãm “Ardent Nature” tại Hauser & Wirth, cháu gái ông – Saskia Spender – mô tả tác phẩm của Gorky là “một biểu đạt thiết yếu của trải nghiệm con người, vượt lên trên cả sinh và tử”. Bà gọi ông là “một người đầy bí mật” và “kẻ si tình của màu sắc”. Trong khi đó, André Breton – người sáng lập Chủ nghĩa Siêu thực lại ví năng lượng cuồng nhiệt trong tranh của Gorky như “khát vọng của loài bướm và loài ong”.
Dù cuộc đời và sự nghiệp của Gorky kết thúc bi kịch khi ông qua đời năm 1948 ở tuổi ngoài 40, các bản vẽ và tranh của ông vẫn được xem là một trong những sáng tạo độc đáo và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của thế kỷ 20.
Arshile Gorky là ai?
Gorky sinh khoảng năm 1902 với tên khai sinh Vosdanig Adoian, tại thị trấn nhỏ Khorkom gần hồ Van, thuộc vùng Armenia (nay là lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ). Cha ông, Setrag Adoian, là một thương nhân kiêm thợ mộc, còn mẹ ông, Shushan der Marderosian, xuất thân từ gia đình giáo sĩ Armenia. Dù chậm nói hơn những đứa trẻ khác, Gorky sớm bộc lộ năng khiếu tạo hình. Chị cùng cha khác mẹ của ông từng kể: “Anh ấy vẽ ngay cả trong lúc ngủ, có thể thấy tay anh ấy đang chuyển động.”
Tuổi thơ của ông gắn liền với biến động khi người Armenia bị áp bức bởi Đế chế Ottoman, buộc gia đình ông phải rời quê hương sang Mỹ. Sau khi mẹ qua đời vì đói năm 1919, Gorky cùng chị gái Vartoosh bắt đầu hành trình dài qua các trại tị nạn ở Constantinople và Athens, trước khi đặt chân đến Mỹ vào năm 1920.
Không lâu sau đó, ông bắt đầu “tái sinh” bản thân như một nghệ sĩ, đồng thời đưa trải nghiệm lưu vong vào tác phẩm. Sau một thời gian ngắn học kỹ thuật, ông theo học tại trường thiết kế ở Boston và thường xuyên lui tới bảo tàng, nơi ông nghiên cứu tác phẩm của các danh họa như Joan Miró và Wassily Kandinsky. Cũng trong thời gian này, ông lấy tên Arshile Gorky, mượn từ nhà văn Maxim Gorky, như một cách định vị mình trong truyền thống sáng tạo.
Năm 1924, khi chuyển đến New York, ông sống bằng nghề dạy học tại trường nay là Parsons School of Design, nơi Mark Rothko từng là học trò của ông. Ông kết giao với nhiều nghệ sĩ như Stuart Davis, John Graham, Isamu Noguchi, cũng như các trí thức như Breton, đồng thời trở thành một nhân vật quan trọng trong cộng đồng nghệ thuật New York và là người truyền cảm hứng cho thế hệ sau như Willem de Kooning.
Dù thành công trong sự nghiệp, phải đến năm 1941, khi gặp Agnes Magruder, ông mới tìm thấy hạnh phúc cá nhân. Tại Connecticut, ông sáng tạo nên những tác phẩm xuất sắc nhất: các hình khối trừu tượng hữu cơ, giàu màu sắc, kết hợp ảnh hưởng từ Lập thể, Siêu thực, ký ức tuổi thơ và thiên nhiên xung quanh.
Tuy nhiên, chuỗi bi kịch từ năm 1946 – cháy xưởng, bệnh ung thư, tai nạn – đã khiến tranh ông trở nên u tối hơn. Đến năm 1948, ông rơi vào trầm cảm sâu sắc và qua đời, để lại lời nhắn: “Tạm biệt, những người tôi yêu.”
Xem tiếp : Phần 2
Nguồn : artsy
Biên soàn và dịch : Bảo Long