-
-
-
Tổng tiền thanh toán:
-
Tin tức
Những điều bạn cần biết về Helen Frankenthaler, người kế thừa tinh hoa của Abstraction tại khu Uptown ( Phần 2 )
![]()
( Helen Frankenthaler đang làm việc trong xưởng vẽ của mình, năm 1969. )
Người phát minh ra kỹ thuật "ngâm tẩm" – kỹ thuật khai sinh ra trường phái hội họa màu sắc (Color Field Painting).
Năm 1952, Helen Frankenthaler có bước đột phá sáng tạo lớn nhất trong sự nghiệp của mình gần như là do tình cờ. Một ngày nọ, trong xưởng vẽ, bà rất háo hức bắt tay vào việc, nhưng tấm vải vẽ của bà vẫn chưa được phủ lớp sơn lót (giống như hầu hết các họa sĩ khác, bà thường phủ một lớp sơn lót lên tranh của mình). Bà nói: “Có lẽ tôi đã rất thiếu kiên nhẫn muốn vẽ”, và vì “sự thiếu kiên nhẫn, lười biếng và ý tưởng sáng tạo, tôi quyết định tại sao không vẽ thẳng lên?”. Hiệu ứng loang màu của sơn thấm vào tấm vải chưa được phủ sơn lót đã truyền cảm hứng cho bà làm điều gì đó mới mẻ, và bà bắt đầu pha loãng sơn bằng dung môi turpentine rồi đổ và di chuyển nó trên tấm vải thô. Bức tranh Núi và Biển năm 1952 của bà là ví dụ đầu tiên về kỹ thuật “ ngấm màu ” mà bà đã phát minh ra, và hiệu ứng của nó rất biểu cảm, tức thì và trong suốt.
Đối với Frankenthaler, cách tiếp cận bản năng này trong sáng tạo là vô cùng quan trọng. “Không có quy tắc nào cả. Đó là cách nghệ thuật ra đời, cách những đột phá xảy ra. Đi ngược lại các quy tcas tắc hoặc bỏ qua các quy tắc. Đó chính là bản chất của sự sáng tạo,” Frankenthaler sau này nói về cách tiếp cận thực hành nghệ thuật của mình. Đến những năm 1960, Frankenthaler chuyển từ chủ yếu sử dụng sơn dầu sang sơn acrylic, đôi khi sử dụng cả hai chất liệu trên cùng một bức tranh. Sơn acrylic làm tăng độ đậm màu của Frankenthaler và cho phép bà tạo ra những hình dạng rõ nét hơn với các tông màu trong suốt, đồng thời cũng ít gây hại cho vải hơn so với sơn dầu.
Những tác phẩm nhuộm thấm màu của Frankenthaler đã khơi nguồn cảm hứng cho các họa sĩ trẻ Morris Louis và Kenneth Noland, những người sau này đã định hình nên phong trào Trường phái Màu sắc (Color Field). Năm 1953, Clement Greenberg đưa cả Louis và Noland đến xưởng vẽ của Frankenthaler khi bà vắng nhà (ông giữ chìa khóa). Các họa sĩ đã vô cùng kinh ngạc trước những gì họ thấy. “Chúng tôi không chỉ thấy bức tranh Núi và Biển mà còn cả một nhóm tranh bà ấy mới vẽ gần đây,” Noland nhớ lại. “Chúng tôi cảm thấy phấn chấn. Ý tưởng có thể trải màu ra trên bề mặt bức tranh mà không tạo ra ảo giác – điều này rất hấp dẫn đối với chúng tôi.”
2. Bà ấy rất ngưỡng mộ Jackson Pollock
Năm 1950, Helen Frankenthaler bước vào Phòng trưng bày Betty Parsons và lần đầu tiên nhìn thấy những bức tranh của Jackson Pollock. “Tất cả đều ở đó. Tôi muốn sống ở vùng đất này. Tôi phải sống ở đó và làm chủ ngôn ngữ của nó,” Frankenthaler nhớ lại về cuộc gặp gỡ mang tính bước ngoặt đó.
Qua những vệt sơn táo bạo của Pollock được quét ngang bức tranh trừu tượng , Frankenthaler nhận thấy cách một họa sĩ có thể khai thác sự trực tiếp của bản thân và thiên nhiên, chứ không chỉ đơn thuần là tái hiện lại những ý tưởng đã có. Từ Pollock, Frankenthaler đã áp dụng kỹ thuật vẽ nằm ngang, đặt khung tranh trên sàn nhà, và đổ sơn trực tiếp lên tranh, thường không dùng cọ.
Trong thời đại của mình, cách tiếp cận rộng rãi của Frankenthaler đối với trường phái Biểu hiện Trừu tượng đã mang lại cho nữ họa sĩ cả lời khen ngợi lẫn sự chế giễu. Sự phong phú về màu sắc và nét vẽ gợi cảm của bà được cả người hâm mộ và giới phê bình mô tả là "nữ tính", "thơ mộng" và đơn giản là "đẹp". Về phần mình, Frankenthaler cho rằng giới tính của bà không liên quan nhiều đến tác phẩm của mình. Một số nhà phê bình đương thời đánh giá cao sự tò mò và thẳng thắn trong nghệ thuật của bà. Năm 1972, nhà văn Barbara Rose đã mô tả một cách khéo léo các bức tranh của Frankenthaler như thể hiện "sự tự do, tính tự phát, sự cởi mở và sự phức tạp của một hình ảnh, không chỉ thuộc về xưởng vẽ hay tâm trí, mà còn gắn bó mật thiết và rõ ràng với thiên nhiên và cảm xúc con người."
3. Nhưng Frankenthaler cũng xúc động trước các bậc thầy hội họa xưa.
Hiện đang được trưng bày tại MoMA, bức tranh Thang của Jacob (1957) của Frankenthaler hé lộ những mối quan tâm của bà vượt ra ngoài chủ nghĩa Hiện đại. Bố cục theo chiều dọc tràn đầy những cử chỉ mạnh mẽ. Ở tiền cảnh bức tranh, các lớp hình thức trừu tượng với màu xanh ngọc, san hô và tím nhạt tạo thành một lớp nền vươn lên đến đỉnh điểm với những vệt sơn nhạt màu huyền ảo ở phía trên. Tác phẩm trừu tượng này được lấy cảm hứng từ bức tranh Giấc mơ của Jacob (1639) của họa sĩ người Tây Ban Nha thế kỷ 17 José de Ribera, mô tả cảnh trong Kinh Thánh về Jacob, con trai của Isaac, mơ thấy sau khi chạy trốn khỏi nhà chú mình, và nhìn thấy mối liên hệ thiêng liêng trực tiếp giữa trời và đất. Frankenthaler đã nhìn thấy bức tranh này vài năm trước tại bảo tàng Prado ở Madrid.
“Bức tranh dần hình thành (từng chút một trong quá trình tôi vẽ) thành những hình dạng tượng trưng cho một hình người tràn đầy sức sống và một chiếc thang,” bà giải thích, “vì vậy mới có tên là Thang của Jacob .” Nguồn cảm hứng cho bức tranh này không phải là điều bất thường đối với Frankenthaler. “Bà ấy thường xem các tác phẩm của các bậc thầy xưa để củng cố thêm cho nghệ thuật của riêng mình,” Alexander Nemerov viết trong cuốn tiểu sử đầy nhiệt huyết năm 2021 về nữ họa sĩ, Fierce Poise , “để lấy cảm hứng trực tiếp từ những họa sĩ vĩ đại nhất từng sống, để tạo nên một liên minh tưởng tượng với những người đàn ông trong quá khứ, những người sẽ truyền cảm hứng – theo một tiêu chuẩn nội tại nào đó của riêng bà – cho sự nghiêm túc và tầm vóc của nghệ thuật bà.” Trong một số bức tranh trừu tượng của Frankenthaler, những ảnh hưởng lịch sử này hiện lên rõ nét, chẳng hạn như trong bức tranh For EM năm 1981, một tác phẩm tri ân họa sĩ trường phái Ấn tượng Pháp Édouard Manet, và là một hình ảnh trừu tượng hóa lại bức tranh Tĩnh vật với cá chép (1864) của ông.
Triển lãm sắp tới của Bảo tàng Nghệ thuật Basel sẽ là triển lãm đầu tiên đi sâu vào niềm đam mê của Frankenthaler với toàn bộ lịch sử nghệ thuật, từ sự quan tâm của bà đến Picasso, Cézanne và Kandinsky khi còn là sinh viên cho đến niềm yêu thích bà dành cho Titian, Peter Paul Rubens và Claude Monet trong những chuyến du lịch dài ngày ở châu Âu, mở ra tiềm năng cho những hiểu biết mới về thực tiễn sáng tác của bà.
Nguồn : artnet
Biên dịch : Bảo Long